Người ăn chay trường ở Việt Nam gặp một khó khăn rất cụ thể: nhiều thành phần gốc động vật xuất hiện trên nhãn dưới những cái tên hoàn toàn không gợi ra nguồn gốc của chúng. Gelatin thì nhiều người biết, nhưng còn carmine, shellac, lactose, casein hay mono và diglyceride thì ít ai để ý. Bài này liệt kê những tên hay gặp nhất trên nhãn hàng bán ở Việt Nam, kèm nhóm sản phẩm mà chúng thường nằm trong, để bạn biết chỗ nào cần đọc kỹ.
Nhóm gốc thịt và xương
Gelatin là collagen từ da và xương động vật. Tên hay gặp nhất.
Nó nằm trong thạch, kẹo mềm, sữa chua và viên nang. Bốn nhóm chính.
Rau câu và bột agar là bản thực vật thay thế. Kết cấu giòn hơn.
Chiết xuất thịt và bột xương nằm trong bột nêm và gói gia vị mì. Rất phổ biến.
Gói gia vị của mì ăn liền thường có chiết xuất thịt. Dù vỏ mì thì chay.
Nhiều người ăn mì chay nhưng vẫn dùng gói gia vị kèm. Điểm sót phổ biến nhất.
Mỡ động vật ghi là shortening động vật hoặc tallow. Nằm trong bánh và đồ chiên.
Bột huyết thì ít gặp trong thực phẩm nhưng có trong một số sản phẩm. Kiểm nếu thấy.
Chiết xuất nấm men thì lại là thực vật. Đừng lẫn với chiết xuất thịt.
Chiết xuất xương hầm trong nước dùng đóng gói. Đọc nhãn nước dùng.
Enzyme trong một số sản phẩm có gốc dạ dày động vật. Nhất là trong phô mai.
Rennet là enzyme từ dạ dày bò. Có trong phô mai truyền thống.
Nhóm này là nhóm dễ nhận ra nhất nếu nhãn ghi rõ, nhưng khó nhất khi nhãn chỉ ghi hương thịt hoặc gia vị tổng hợp. Chữ gia vị tổng hợp là chỗ có thể chứa bất cứ gì.
Gói gia vị mì ăn liền là chỗ sót nhiều nhất trong cả bài. Nếu ăn chay trường thì nên bỏ gói gia vị và tự nêm, đó là cách chắc chắn duy nhất.
Nhóm gốc sữa và trứng
Whey là đạm sữa, nằm trong bánh, bột và sản phẩm chay giả mặn. Rất phổ biến.
Casein và caseinat cũng là đạm sữa. Nằm trong phô mai chay giả và bột kem.
Nhiều loại phô mai chay có casein. Điều gây bất ngờ.
Lactose là đường sữa. Nằm trong bánh, thuốc và bột nêm.
Bột kem và bột sữa nằm trong trà sữa và cà phê hoà tan. Đọc nhãn.
Bơ sữa ghi là butter hoặc bơ động vật. Trong bánh.
Lòng trắng trứng và albumin nằm trong chả, bánh và kẹo. Kiểm.
Lecithin trứng thì ít gặp hơn lecithin đậu nành. Nhưng có.
Lysozyme là enzyme từ lòng trắng trứng. Trong một số sản phẩm.
Sản phẩm ghi thuần chay hoặc vegan thì đã loại bỏ nhóm này. Tiện nhất.
Sản phẩm ghi chay thì có thể vẫn có sữa và trứng. Đây là phân biệt quan trọng.
Nhiều người ăn chay Việt vẫn dùng sữa và trứng. Nên chữ chay trên bao không đủ rõ.
Phân biệt giữa chữ chay và chữ thuần chay là điều quan trọng nhất trong phần này. Chữ chay ở Việt Nam thường chỉ nghĩa là không thịt, còn sữa và trứng thì vẫn có.
Nếu bạn không dùng sữa và trứng thì phải tìm chữ thuần chay hoặc vegan. Hoặc tự đọc danh sách thành phần, vì chữ chay một mình không bảo đảm điều đó.
Nhóm màu, bóng và phụ gia
Carmine là màu đỏ từ côn trùng. Ghi là carmine, cochineal hoặc mã số màu đỏ tự nhiên.
Nó nằm trong kẹo, nước ngọt, sữa chua và mứt. Nhóm màu đỏ hồng.
Shellac là nhựa từ côn trùng, dùng làm lớp bóng. Trên kẹo và trái cây bọc.
Shellac ghi là chất phủ bóng hoặc E904. Ít ai để ý.
Sáp ong dùng làm lớp phủ. Ghi là beeswax.
Mật ong thì nhiều người ăn chay vẫn dùng. Tuỳ quan điểm cá nhân.
Mono và diglyceride có thể gốc động vật hoặc thực vật. Nhãn thường không nói rõ.
Axit stearic và stearat cũng vậy. Hai nguồn.
Glycerin cũng có hai nguồn. Ghi là glycerol.
Vitamin D3 thường gốc lông cừu. Trừ loại ghi rõ từ rêu địa y.
Omega ba trong sản phẩm bổ sung có thể từ cá. Loại từ tảo thì chay.
Chất làm trong trong nước trái cây và bia có thể từ cá. Ghi là gelatin hoặc isinglass.
Nhóm này là nhóm khó nhất vì cùng một tên có thể là hai nguồn khác nhau. Với mono và diglyceride thì cách duy nhất là hỏi nhà sản xuất hoặc chọn sản phẩm có chứng nhận.
Carmine và shellac là hai thứ đáng nhớ nhất trong nhóm. Chúng có tên rất trung tính nên gần như không ai đoán được nguồn gốc, mà chúng lại nằm trong những sản phẩm rất phổ thông.
Nhóm sản phẩm dễ sót
Mì ăn liền và gói gia vị kèm. Chỗ sót số một.
Bột nêm và hạt nêm. Nhiều loại có chiết xuất thịt.
Nước dùng đóng gói và viên nước dùng. Đọc nhãn.
Bánh quy và bánh ngọt đóng gói. Thường có sữa hoặc trứng.
Kẹo mềm và thạch. Gelatin.
Sữa chua và kem. Sữa là tất nhiên nhưng còn gelatin.
Trà sữa và cà phê hoà tan. Bột kem.
Sản phẩm chay giả mặn. Có thể có sữa hoặc trứng.
Bánh mì công nghiệp. Một số loại có bột sữa.
Sốt đóng chai như tương ớt pha và sốt salad. Có thể có dầu hào hoặc trứng.
Đồ chiên đông lạnh. Bột áo có thể có sữa.
Viên nang thuốc và thực phẩm bổ sung. Vỏ nang thường là gelatin.
Trong tất cả nhóm trên thì bột nêm và gói gia vị mì là hai chỗ mà người ăn chay Việt sót nhiều nhất. Vì chúng được dùng hằng ngày và vì ít ai nghĩ tới việc đọc nhãn một gói gia vị.
Vỏ viên nang thuốc là chỗ sót thứ hai. Có loại vỏ thực vật và nhà thuốc biết, nên chỉ cần hỏi khi mua là được.
Cách kiểm nhanh khi đi mua
Đọc danh sách thành phần chứ đừng đọc mặt trước bao. Nguyên tắc số một.
Tìm chữ sữa, trứng, whey, casein, gelatin trước. Năm từ hay gặp nhất.
Tìm chữ hương thịt hoặc chiết xuất thịt. Trong bột nêm và mì.
Tìm chữ chất phủ bóng ở kẹo và trái cây khô. Có thể là shellac.
Với sản phẩm màu đỏ hồng thì kiểm màu là carmine hay không. Nhóm cần để ý.
Ưu tiên sản phẩm có chứng nhận thuần chay. Bỏ được bước kiểm từng dòng.
Chụp ảnh nhãn nếu không kịp đọc. Đọc sau rồi ghi lại nhãn nào đạt.
Lập một danh sách nhãn đã kiểm và đạt. Lần sau mua nhanh.
Danh sách đó là công cụ hữu ích nhất. Hơn việc đọc lại mỗi lần.
Nhớ rằng công thức có thể thay đổi. Kiểm lại định kỳ.
Nhãn đổi bao bì thì thường cũng đổi công thức. Đọc lại khi thấy bao mới.
Hỏi nhà sản xuất qua số điện thoại trên bao nếu không rõ. Họ có nghĩa vụ trả lời.
Cách hiệu quả nhất về lâu dài là xây một danh sách nhãn đã kiểm cho những thứ bạn mua thường xuyên. Mất một buổi đọc nhãn ở siêu thị nhưng sau đó thì việc đi chợ trở nên rất nhanh.
Đừng cố nhớ hết danh sách thành phần trong bài này. Nhớ năm từ hay gặp nhất và nhớ rằng bột nêm với gói gia vị mì là chỗ cần đọc, thế là đã giải quyết được phần lớn.